TAGS

mẹo chữa táo bón trẻ em Bệnh tay chân miêng và cách chữa Bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ em Trẻ bị cước tay bệnh viêm ruột cấp ở trẻ em cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột Bổ sung kẽm cho trẻ trẻ bị táo bón đầy hơi chướng bụng Special Kid Nez & Gorge Trẻ mới ốm dậy bệnh vào mùa lạnh bệnh viêm đường hô hấp trên tăng cường thị lực tăng chiều cao cho bé giảm ho thiếu máu ở trẻ em tăng cường sức đề kháng cách bổ sung vitamin cho trẻ điều trị viêm đường hô hấp trên Sức đề kháng của trẻ kém nhiễm khuẩn ở trẻ em suy dinh dưỡng rối loạn tiêu hóa Tiêu chảy nôn mửa mất ngủ Táo bón khó tiêu trẻ bị cận thị bổ sung vitamin chữa dị ứng cho trẻ giúp bé tăng chiều cao trẻ biếng ăn suy dinh dưỡng Bệnh hô hấp trên trẻ nhỏ Đau rát cổ họng Tiêu chảy suy dinh dưỡng Tăng sức đề kháng khô mắt ở trẻ em cách chống cận thị ở trẻ em cận thị ở trẻ em Ăn gì sáng mắt bà bầu bị ho tăng sức đề kháng cho trẻ nhỏ rối loạn tiêu hóa ở trẻ nhỏ rôm xảy ở trẻ em trẻ bị ho khan dị ứng ở trẻ em viêm da dị ứng ở trẻ em táo bón ở trẻ em hệ tiêu hóa trẻ em bệnh ngoài da mua thuốc tây say thuốc tây thuốc tây bôi mụn thực phẩm chức năng thuốc tây trị mụn thuốc tây trị mụn trứng cá thuốc tây trị ho sử dụng máy xông mũi họng Sử dụng máy đo huyết áp điện tử cần chú ý điều gì? cách phòng ngừa bệnh viêm lợi máy đo huyết áp điện tử có chính xác không máy đo huyết áp điện tử sử dụng máy đo đường huyết ung thư đường tiêu hóa tầm soát ung thư đường tiêu hóa Zika Trầm cảm trầm cảm tuổi teen trầm cảm tuổi teen Mụn rộp môi mụn trứng cá viêm gan biến chứng thủy đậu cách phòng ngừa cúm đau nửa đầu phòng tránh tăng huyết áp cao huyết áp bệnh tăng huyết áp

Đặc tính của thuốc trị cao huyết áp


Theo Tổ chức Y tế Thế giới, chỉ số huyết áp tốt nhất là 120/80mmHg, 120 là huyết áp tâm thu và 80 là huyết áp tâm trương. Khi chỉ số cao hơn 140/90 được gọi là tăng huyết áp. Mục đích của điều trị bệnh tăng huyết áp là giảm tối đa nguy cơ bị các biến chứng tim mạch và tử vong. Nên hạ huyết áp tích cực cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương ít nhất là dưới 140/90mmHg và hạ thấp hơn nữa nếu người bệnh còn dung nạp được. Hạ huyết áp dưới 130/80 mmHg ở bệnh nhân có đái tháo đường, dưới 125/70 nếu có suy thận.

Khi huyết áp trở về bình thường người bệnh cần tiếp tục điều trị, không được ngừng điều trị vì sẽ nguy hiểm. Bệnh nhân tự ngưng điều trị sẽ bị tái phát huyết áp ở mức như trước khi điều trị hay thậm chí còn cao hơn và thời điểm này dễ xảy ra các biến chứng tim mạch như đột quỵ, nhồi máu cơ tim.

Có nhiều thuốc trị cao huyết áp đang được sử dụng ở nước ta, chia thành nhiều nhóm với một số đặc tính như sau:

Cơ chế tác dụng của thuốc hạ huyết áp

  1. Nhóm thuốc lợi tiểu:

Gồm có Hydroclorothiazid, Indapamid, Furosemid, Spironolacton, Amilorid, Triamteren...

Cơ chế của thuốc là làm giảm sự ứ nước trong cơ thể, tức làm giảm sức cản của mạch ngoại vi, dẫn đến làm hạ huyết áp. Dùng đơn độc khi bị huyết áp nhẹ, có thể phối hợp với thuốc khác khi cao huyết áp nặng thêm.

Cần lựa chọn loại phù hợp do có loại làm thải nhiều kali, loại giữ kali, tăng acid uric trong máu, tăng cholesterol máu.

  1. Nhóm thuốc tác động lên hệ thần kinh trung ương:

Gồm có Reserpin, Methyldopa, Clonidin...

Cơ chế của thuốc là hoạt hóa một số tế bào thần kinh gây hạ huyết áp.

Hiện nay ít dùng do tác dụng phụ gây trầm cảm, khi ngừng thuốc đột ngột sẽ làm tăng vọt huyết áp.

  1. Nhóm thuốc chẹn alpha:

Gồm có Prazosin, Alfuzosin, Terazosin, Phentolamin...

Cơ chế của thuốc là ức chế giải phóng noradrenalin tại đầu dây thần kinh (là chất sinh học làm tăng huyết áp), do đó làm hạ huyết áp.

Có tác dụng phụ gây hạ huyết áp tư thế đứng, đặc biệt khi dùng liều đầu tiên.

  1. Nhóm thuốc chẹn beta:

Gồm có Propanolol, Pindolol, Nadolol, Timolol, Metoprolol, Atenolol, Labetolol, Acebutolol...

Cơ chế của thuốc là ức chế thụ thể beta - giao cảm ở tim, mạch ngoại vi, do đó làm chậm nhịp tim và hạ huyết áp. Thuốc dùng tốt cho bệnh nhân có kèm đau thắt lưng, ngực hoặc nhức nửa đầu.

Chống chỉ định đối với người có kèm hen suyễn, suy tim, nhịp tim chậm.

  1. Nhóm thuốc đối kháng calci:

Gồm có Nifedipin, Nicardipin, Amlodipin, Felodipin, Isradipin, Verapamil, Diltiazem...

Cơ chế của thuốc là chặn dòng ion calci không cho đi vào tế bào cơ trơn của các mạch máu, vì vậy gây giãn mạch và từ đó làm hạ huyết áp. Dùng tốt cho bệnh nhân có kèm đau thắt ngực, hiệu quả đối với bệnh nhân cao tuổi, không ảnh hưởng đến chuyển hóa đường, mỡ trong cơ thể.

  1. Nhóm thuốc ức chế men chuyển:

Gồm có Captopril, Enalapril, Benazepril, Lisinopril, Perindopril, Quinepril, Tradola-pril...

Cơ chế của thuốc là ức chế một enzym có tên là men chuyển angiotensin (angiotensin converting enzym, viết tắt ACE). Nhờ men chuyển angiotensin xúc tác mà chất sinh học angiotensin I biến thành angiotensin II và chính chất này gây co thắt mạch làm tăng huyết áp. Nếu men chuyển ACE bị thuốc ức chế (làm cho không hoạt động) sẽ không sinh ra angiotensin II, gây ra hiện tượng giãn mạch và làm hạ huyết áp. Thuốc hữu hiệu trong 60% trường hợp khi dùng đơn độc. Là thuốc được chọn khi bệnh nhân bị kèm hen suyễn (chống chỉ định với chẹn beta), đái tháo đường (lợi tiểu, chẹn beta).

Tác dụng phụ: làm tăng kali huyết và gây ho khan. Nguyên nhân do men chuyển ACE không chỉ xúc tác biến angiotensin I thành angiotensin II gây tăng huyết áp mà còn có vai trò trong sự phân hủy một chất sinh học khác có tên là bradykinin. Nếu ức chế men ACE, bradykinin không được phân hủy ở mức cần thiết, sẽ thừa và gây nhiều tác dụng, trong đó có ho khan.

  1. Nhóm thuốc mới ức chế thụ thể angiotensin:

Các nghiên cứu gần đây nhận thấy, thay vì ức chế men ACE, nghiên cứu tập trung vào cơ chế ngăn không cho angiotensin II gắn vào thụ thể của nó (angiotensin II receptors, type 1) nằm ở mạch máu, tim, thận, do đó sẽ làm hạ huyết áp. Vì thế, nhóm thuốc mới trị cao huyết áp hiện nay đang được ưa chuộng là nhóm thuốc ức chế thụ thể angiotensin II (Angiotensin II receptors antagonists), bao gồm: Losartan, Irbesartan, Candesardan, Valsartan...

Nhóm này có tác dụng hạ huyết áp, đưa huyết áp về trị số bình thường, tương đương với các thuốc nhóm đối kháng calci, chẹn beta, ức chế men chuyển. Ðặc biệt, tác dụng hạ áp của chúng tốt hơn nếu phối hợp với thuốc lợi tiểu Thiazid. Lợi điểm của nhóm thuốc này là do không trực tiếp ức chế men chuyển nên gần như không gây ho khan như nhóm ức chế men chuyển, hoặc không gây phù như thuốc đối kháng calci.

Tác dụng phụ có thể gặp là chóng mặt, hoặc rất hiếm là gây tiêu chảy. Chống chỉ định của thuốc là không dùng cho phụ nữ có thai hoặc người bị dị ứng với thuốc.

 

Để lại bình luận

Scroll